Bài viết mới

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

Xe Lôi xưa và nay


(XELOI.COM) - Chẳng nhớ loại hình Xe Lôi máy xuất hiện ở xứ đồng bằng miền Tây quê tôi từ thuở nào, dẫu vậy theo năm tháng dần phai, hình ảnh chiếc Xe Lôi không thể nào quên trong tâm thức của tôi.

 
 



Nguồn
(Sưu tầm)

Tiếc nuối lắm xe lôi miền Tây

(XELOI.COM) - Các tỉnh thành miền Tây Nam Bộ đã cấm xe lôi hoạt động trên đường phố. Dân miền Tây rất xót xa việc này. Xe lôi miền Tây giống như xích lô ở Hà Nội. Cấm rồi biết bao giờ …

Tôi vẫn còn nhớ những khoảnh khắc ngồi xích lô đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm thời sinh viên. Mọi thứ trầm lắng, nhẹ nhàng đến lạ. Cảm nhận ngồi trên chiếc xe như thế để đi dạo thấy chữ tình nặng theo những bước đạp nhấn của bác lái xe.
Ta có thể áy náy khi thấy người lái xe lấy tay áo quẹt mồ hôi, người nhô hẳn lên để đẩy xe qua dốc nhưng người lái xe lại đang rất hạnh phúc vì có thêm một người khách. Đó là giây phút ta cảm nhận cuộc sống rõ ràng nhất.
Cảm giác xích lô Hà Nội bây giờ không thú vị như trước đây. Cho đến khi đến miền Tây Nam Bộ, đi xe lôi mới thấy lại những điều thân thương khó tả. Bác lái xe tình cảm một dạ hai vâng, dễ dàng kể về cuộc đời, công việc nếu bạn muốn chia sẻ.
 
Nhà văn Thiếu Văn Sơn, người Thái Bình đã chia sẻ: có lần đi xe lôi miền Tây (Nam Bộ), bác lái xe đã nói cởi mở, còn mời tôi về nhà. Hóa ra vợ bác ấy cũng là người Thái Bình. Họ đón tiếp tôi như họ hàng. Cái tình người lái xe lôi thật ấm áp lạ lùng. Nó làm tôi thấy mình già gần 70 tuổi cũng cảm thấy yêu đời hơn.
Xe lôi là đặc sản riêng của người miền Tây. Từ những chiếc xe lôi bộ vốn đã lùi vào quá khứ, phát triển thành xe lôi đạp, rồi cải tiến lên xe lôi máy. Giờ thì xe lôi máy cũng chẳng còn do nghị định cấm xe ba gác, xe tự chế. Nên nhiều du khách khi đến miền Tây cũng hụt hẫng vì rất hiếm thấy hình ảnh xe lôi bon bon trên đường.
Nếu cấm xe lôi, sẽ thật buồn. Còn đâu cái tình người lái xe. Còn đâu cảm giác thú vị khi ngồi chồm hổm trên xe lôi với những câu chuyện khám phá tính cách hào sảng của anh hai, anh ba miền sông nước.
Nhưng có một nơi mà xe lôi vẫn hiện diện khắp nơi. Trước cửa khách sạn, bên quán ăn, ở chợ, rìa các quán cóc vỉa hè... đâu đâu cũng có xe lôi. Nơi ấy là nơi sản sinh ra chiếc xe lôi và cũng là nơi đang cố níu kéo sản phẩm đặc trưng vùng miền của mình. Đó là Châu Đốc – An Giang, quê hương của những câu chuyện ly kỳ về bà chúa Xứ ở núi Sam hay  lăng mộ Thoại Ngọc Hầu và phu nhân. Đây là nơi có nhiều xe lôi nhất miền Tây Nam Bộ.
Cơn lốc đô thị hóa, hiện đại hóa, cơn lũ xe máy giá rẻ "made in china" hầu như không ảnh hưởng đến những con người vốn mưu sinh trên 3 bánh xe lôi nơi này. “Chạy xe lôi vất vả thật, nhưng gắn bó với nghề rồi, không làm sao bỏ được. Mà bỏ rồi mần gì mà ăn”, bác tài vui tính sún răng làm nghề lái xe lôi tâm sự.
Nhà bác 5 miệng ăn đều trông chờ vào chiếc xe cà tàng này. Mỗi ngày cố gắng lắm bác cũng chỉ kiếm chừng 150.000, cơm mắm muối hết phần ba, còn dành dụm cho bọn nhỏ vào năm học mới. Vậy mà một khi thích, bác có thể đưa bạn đi chơi khắp Châu Đốc mà nhất định không chịu lấy tiền. Con người nơi đây là thế.
Xa miền Tây rồi, lại nhớ em gái miệt vườn, nhớ tiếng bành bạch của ghe thuyền, tiếng nước vỗ bờ ì oạc ì oạc và nhớ lắm hình ảnh bác tài và chiếc xe lôi.
 Nguồn
(Sưu tầm)

Chầm chậm xe lôi chốn miệt vườn miền Tây Nam bộ

(XELOI.COM) - Đến bây giờ, thật khó nói chính xác xe lôi xuất hiện ở miền Tây Nam bộ từ khi nào. Cuối thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20? Có lẽ, xe lôi là một phiên bản của xe kéo. Dùng sức người để kéo xe, người nghèo làm phu xe cho người giàu. Xe lôi, là một chiếc xe đạp phải lôi theo một cỗ xe phía sau...


Trong sinh hoạt của người miền Tây Nam bộ hôm nay, xe lôi là một hình ảnh thân quen và gần gũi. Theo sự phát triển ồ ạt của các loại phương tiện hiện đại, thân phận xe lôi càng trở nên nhỏ bé hơn. Thế nhưng, khi xe lôi được xem như một sản phẩm du lịch thì xe lôi cũng được mặc định như một giá trị văn hóa!
Đến bây giờ, thật khó nói chính xác xe lôi xuất hiện ở miền Tây Nam bộ từ khi nào. Cuối thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20? Có lẽ, xe lôi là một phiên bản của xe kéo. Dùng sức người để kéo xe, người nghèo làm phu xe cho người giàu. Và đến khi ngành công nghiệp cơ khí đạt được những tiến bộ nhất định để chiếc xe đạp phổ biến trong đời sống dân sinh, thì xe lôi ra đời. Xe lôi, hình dung cho dễ hiểu, là một chiếc xe đạp phải lôi theo một cỗ xe phía sau.
Xe lôi tung hoành ngang dọc khắp miền Tây khoảng nửa cuối thập niên 80 đến nửa đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Sau đó, xe máy được bán rẻ hơn, và loại xe lôi máy lại được sử dụng. Xe lôi máy dĩ nhiên chạy nhanh hơn, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy hiểm hơn. Thành phố Cần Thơ là đô thị đầu tiên cấm xe lôi máy, rồi tiến đến cấm xe lôi. Ở phố xá chen chúc, xe lôi giống như một quái thú làm ngứa mắt người khác chăng? Đành chịu, vì văn minh đô thị, xa lôi lại dạt về các vùng ngoại ô.
 

Khi chúng ta cấm xe lôi, thì một kiểu xe lôi khác của Trung Quốc lại tràn sang. Về mặt cấu tạo, xe lôi Trung Quốc cũng gần giống như xe ba gác tự chế, gồm phần đầu (xe gắn máy) và phần chở hàng. Giá một chiếc xe lôi Trung Quốc khoảng 45 triệu đồng. Thế nhưng, đối với khách du lịch thì đi xe lôi Trung Quốc thì chẳng khác gì đi xe lam. Khách du lịch chọn xe lôi không gắn máy, xe lôi do người đạp!
Phải thừa nhận, xe lôi phù hợp địa bàn nhiều kênh rạch của miền Tây. Bên cạnh những dòng kênh nhỏ, là những con đường nhỏ, thì còn phương tiện nào di chuyển an toàn và rẻ như xe lôi. Đi học bằng xe lôi, đi chợ bằng xe lôi, và sảng khoái hơn là đi dạo bằng xe lôi.
Hiện nay, ở những nơi nhiều khách du lịch tại miền Tây như Châu Đốc hoặc Hà Tiên, xe lôi vẫn là phương tiện được chọn lựa hàng đầu. Cái đô thị xinh xinh, nếu vù một vòng xe máy thì hết, nên không có gì hay hơn là thong thả với xe lôi.


Xe lôi cũng là nghề mưu sinh của người nghèo. Một vòng xe lôi khắp các chùa chiền, đền đài ở thị xã Hà Tiên chỉ mất 80 ngàn đồng. Mỗi xe lôi thường chở hai khách, nếu 3 khách hoặc 4 khách cùng trèo lên, người đạp vất vả thêm một chút. Cũng không sao, người miền Tây vốn sởi lởi và chân tình, cho thêm mười ngàn cũng được, mà không cho thêm cũng không sao.
Xung quanh khu vực chợ Châu Đốc có khoảng 50 xe lôi thường xuyên hoạt động. Hỏi chuyện mới biết, mỗi ngày họ kiếm được khoảng 100 ngàn đồng. Mồ hôi mướt ra, hai chân rã rời, để có tiền nuôi con ăn học. Sự lầm lũi và lương thiện ấy, không đáng để trân trọng lắm sao!
Về miền Tây, khách du lịch bình thường gọi một cuốc xe lôi, bỗng dưng cũng ngất ngưởng như ông chủ, bà chủ. Trong cái nắng phương Nam chói gắt, những tấm lưng còng của người đạp xe lôi thấp thoáng trên những con đường nhỏ, thấy thật thương, thấy thật quý và thấy thật đẹp!


Bất chợt băn khoăn một niềm thảng thốt, nếu một ngày nào đó miền Tây Nam bộ không còn bóng dáng xe lôi, thì có lẽ ký ức của nhiều người sẽ trống vắng một niềm riêng xao xuyến trong ký ức khó nguôi ngoai!

Nguồn
(Sưu tầm)

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

Vĩnh biệt Xe Lôi

(XELOI.COM) - Cùng với “gạo trắng, nước trong”, xe lôi là hình ảnh quen thuộc in sâu vào tâm trí người dân lao động Tây Đô. Nhưng từ ngày 1/1/2008, hình ảnh đó sẽ không còn. Hàng nghìn chiếc xe lôi đang run rẩy từng phút chờ giờ khai tử.
 

Phương tiện cho giới bình dân

Xe lôi, cũng như tất cả những gì đang hiện hữu ở Tây Đô, đều có lịch sử của nó. Xưa kia, từ đầu thế kỷ 20 người dân vẫn chỉ biết tới xuồng, ghe đi lại trên sông nước là phương tiện giao thông phổ biến nhất. Sau đó, xuất hiện xe kéo bánh gỗ và đến khoảng năm 1930 thì xe đạp lôi xuất hiện. Nó là sự kết hợp giữa xe đạp và xe kéo. Phía trước là xe đạp, phía sau là cái thùng của xe kéo. Vì tính tiện dụng của nó mà ngay từ khi xuất hiện, loại xe này đã lập tức phổ biến rộng rãi ở khắp vùng Tây Nam bộ.


Khắp các ngả đường từ thành thị đến những miệt vườn ở các tỉnh Đồng Tháp, Long An, An Giang, Cần Thơ... đều có chiếc xe lôi quen thuộc. Nó tồn tại bình dị như cuộc sống ở nơi đây, thay thế cho ghe xuồng. Xe lôi chở học sinh tới trường, chở các chị ra chợ, chở những thùng trái cây tươi rói, và nhiều xe chuyên chở cuộc sống của cả một gia đình, tất cả dồn lên đôi vai người chồng, người cha.


Sau này, khi xe gắn máy bắt đầu phổ biến và mật độ ngày càng tăng thì xe lôi cũng lập tức thay đổi, các bác tài bỏ xe đạp, gắn vào thùng chiếc xế nổ. Phổ biến và thịnh hành nhất phải kể đến Honda 67, thùng xe được trang bị thêm mui để che mưa nắng, giống như xích lô ở Hà Nội bây giờ.


Ở thành phố Cần Thơ, vài ba năm trước xe lôi nhiều vô kể, nườm nượp khắp các tuyến phố. Tới nay, do chính quyền chủ trương hạn chế loại xe tự chế này nên số lượng xe lôi giảm đi đáng kể, tập trung vào một vài bãi đỗ nhất định và cũng chỉ được phép chạy một số tuyến đường nhất định mà thôi.

Nhưng chỉ vài ngày nữa, đến 1/1/2008 thì xe lôi phải lùi vào dĩ vãng. Cần Thơ là địa phương cuối cùng của miền Tây vẫn còn xe lôi. Các đường phố sẽ vắng bóng hoàn toàn, một nét văn hóa của miền Tây, của Tây Đô sẽ chỉ còn tìm được trong hoài niệm. Xe lôi sẽ chết!

Xe chết, người khóc

Tôi ra bến Ninh Kiều, một trong những nơi tập trung xe lôi đông đúc nhất Cần Thơ. Ở đây, các bác tài có bến đỗ theo quy định của thành phố, hoạt động cũng thành nghiệp đoàn, các thùng xe đều có số hiệu. Những chiếc xe nối đuôi nhau thành hàng dài dọc phố Ngô Quyền, khuôn mặt các bác tài suy tư buồn bã. Đây sẽ là những ngày cuối, những chiếc “xe vua” theo cách gọi của dân miền Tây, được tung hoành.


Bác tài Nguyễn Kim Châu ngồi buồn so trên chiếc xe màu đỏ điệu đà. Dù đã biết trước ngày này nhưng khi nó đến, bác không khỏi chạnh lòng: “Buồn chứ! Nhưng tôi còn đỡ hơn nhiều anh em, vì các con đều đã lớn, có công ăn việc làm đàng hoàng. Tôi chỉ đi làm kiếm thêm đồng ra đồng vào cho vui thôi, chứ tôi ở nhà cũng vẫn đủ ăn. Nhiều anh em khác, họ phải nuôi cả gia đình. Giờ chưa biết tính sao”.

 
Ngày ít, cánh xe lôi kiếm được 30-40 nghìn, ngày nhiều thì 50-60 nghìn. Cuộc sống dù không khá giả, nhưng chiếc xe vẫn giúp họ túc tắc đủ ăn, thậm chí nuôi sống tới 4-5 con người.


Tôi gặp bác tài Trần Văn Tới, người đã có thâm niên 14 năm liên tục hoạt động nghề xe lôi. Bác Tới thở dài não nuột: “Lệnh cấm thì phải theo thôi. Nhưng giờ buồn quá chú ạ, sinh hoạt của cả nhà tôi trông mong tất cả vào chiếc xe này. Giờ chưa biết tính sao. Chuyển sang honda ôm thì cũng khó, làm sao giành khách được với cánh bên kia (bác Tới chỉ tay tới dãy xe ôm tới gần 20 chiếc phía bến Ninh Kiều), đông lắm”. Đôi mắt bác Tới đỏ hoe: “Mà xin đi làm bảo vệ thì chẳng đâu người ta nhận chúng tôi nữa, già hết rồi”.


Bác Tới hoạt động trong Hợp tác xã xe lôi, hình như cũng có chút vai vế. Bác cho biết, trong hợp tác hiện có 500 chiếc xe đang hoạt động. Nhưng hiện tại TP cũng đang tồn tại khoảng hơn 500 chiếc khác hoạt động chui. Làm sao mà hàng nghìn người có thể có công ăn việc làm cùng lúc như thế. Bác tài Nguyễn Hùng Dũng - người hoạt động xe lôi gần 20 năm - thì thật thà: “Chắc là chúng tôi kiểu gì cũng phải tìm nghề khác mưu sinh thôi. Cuộc sống thật chật vật”.

Không còn lối thoát nào

Mấy bác tài kể: Hợp tác xã đã đề nghị lên trên xin được giữ lại độ mươi chiếc xe, tân trang sạch đẹp để phục vụ khách du lịch. Dù sao xe lôi cũng là một nét văn hoá của vùng sông nước này. Nhưng “trên” không nghe. Cấm là cấm. “Ngoài Hà Nội xích lô vẫn đi nườm nượp trên phố cổ, nhưng xe lôi ở đây là chắc chết rồi anh ạ”, bác tài Dũng than vãn.


Chiều Tây Đô. Tôi lên xe, đề nghị được đi một vòng. Bác tài nổ máy rồi vui vẻ buông câu hát của Phạm Duy: “Mời người lên xe, về miền quá khứ”. Thú thật, cảm giác ngồi xe lôi rất khó tả, vừa thích, vừa sợ, nhất là mỗi khi xe vào cua. Đây sẽ là lần cuối tôi được ngồi xe lôi, vì lần sau trở lại đây chắc chắn sẽ không còn bóng dáng xe nào nữa. Bác tài vẫn thao thao nói chuyện về đời xe, có lẽ bác đã vui lên ít nhiều. “Tôi sẽ đi làm đến ngày cuối cùng (31/12/2007) và sẽ chở miễn phí những chuyến cuối”, bác hào sảng.

 
Thật ra, chẳng phải riêng gì xe lôi gặp khó, có tiếp xúc mới thấy ngay cả cuộc sống trên sông vốn là “sở trường” của bà con miền Tây cũng đầy vất vả nhọc nhằn.

Nguồn
(Sưu tầm)

Xe Lôi ở Miền Nam Việt Nam

(XELOI.COM) - Xe Lôi là đặc sản riêng của người miền Tây. Từ những chiếc xe lôi bộ vốn đã lùi vào quá khứ, phát triển thành xe lôi đạp, rồi cải tiến lên xe lôi máy. Giờ thì xe lôi máy cũng chẳng còn do nghị định cấm xe ba gác, xe tự chế. Nên nhiều du khách khi đến miền Tây cũng hụt hẫng vì rất hiếm thấy hình ảnh xe lôi bon bon trên đường.


Nếu cấm xe lôi, sẽ thật buồn. Còn đâu cái tình người lái xe. Còn đâu cảm giác thú vị khi ngồi chồm hổm trên xe lôi với những câu chuyện khám phá tính cách hào sảng của anh hai, anh ba miền sông nước….


Nhưng có một nơi mà xe lôi vẫn hiện diện khắp nơi. Trước cửa khách sạn, bên quán ăn, ở chợ, rìa các quán cóc vỉa hè… đâu đâu cũng có xe lôi. Nơi ấy là nơi sản sinh ra chiếc xe lôi và cũng là nơi đang cố níu kéo sản phẩm đặc trưng vùng miền của mình. Đó là Châu Đốc – An Giang, quê hương của những câu chuyện ly kỳ về bà chúa Xứ ở núi Sam hay  lăng mộ Thoại Ngọc Hầu và phu nhân. Đây là nơi có nhiều xe lôi nhất miền Tây Nam Bộ.
 
 
Cơn lốc đô thị hóa, hiện đại hóa, cơn lũ xe máy giá rẻ “made in china” hầu như không ảnh hưởng đến những con người vốn mưu sinh trên 3 bánh xe lôi nơi này. “Chạy xe lôi vất vả thật, nhưng gắn bó với nghề rồi, không làm sao bỏ được. Mà bỏ rồi mần gì mà ăn”, bác tài vui tính sún răng làm nghề lái xe lôi tâm sự.
 
 
Nhà bác 5 miệng ăn đều trông chờ vào chiếc xe cà tàng này. Mỗi ngày cố gắng lắm bác cũng chỉ kiếm chừng 150.000, cơm mắm muối hết phần ba, còn dành dụm cho bọn nhỏ vào năm học mới. Vậy mà một khi thích, bác có thể đưa bạn đi chơi khắp Châu Đốc mà nhất định không chịu lấy tiền. Con người nơi đây là thế.
 
 
Xa miền Tây rồi, lại nhớ em gái miệt vườn, nhớ tiếng bành bạch của ghe thuyền, tiếng nước vỗ bờ ì oạc ì oạc và nhớ lắm hình ảnh bác tài và chiếc xe lôi.
 
Nguồn
(Sưu tầm)